|
I.
QUÊ HƯƠNG VÀ THỜI THƠ ẤU:
Bằng
Sở là một làng nhỏ cách Thủ Đô Hà
Nội chừng 15 km về phía Nam. Xưa có
ba gò là : Gò Thượng, Gò Hạ và Gò Trung.
Gò Thượng và Gò Hạ nằm trên bờ sông
Kim Ngưu ( song song với Sông Hồng) Gò Trung
nằm giữa đồng nước mênh mông.
Thánh
Lê Tuỳ đã sinh ra và lớn lên ở đây. Người
đã khai mở thế hệ
chứng
nhân anh hùng của chúa KiTô thế kỉ XIX.
Năm 1773 tại làng Bằng Sở, có một gia đình
họ Lê sinh được một
con
trai và đặt tên là Lê Tuỳ. Cũng năm ấy
linh mục tiên khởi của Giáo Đoàn Việt
Nam là Cha Vixentê Liêm chịu tử vì đạo.
Lê
Tuỳ càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan, đạo
đức, chăm chỉ
làm
việc. Mọi người trong làng đều nói: “
Lê Tuỳ thật hiền lành ngoan ngoãn”. Năm
10 tuổi cha mẹ đều lâm bệnh và lần lượt
qua đời. Lê Tuỳ về ở với ông Ngoại.
Ông Ngoại Lê Tuỳ là một nhà Nho, nên Lê
Tuỳ sớm được giáo dục theo nề nếp Nho
giáo và đạo đức.
Bằng
Sở thời ấy là họ lẻ thuộc xứ Yên Duyên
(nay là xứ Sở Hạ) cha
xứ
là cha Nghiêm, mỗi lần xuống Bằng Sở dâng
lễ đều đến thăm ông ngoại Lê Tuỳ.
Nhiều lần cha Nghiêm đã nói: “ Lê Tuỳ có
trí thông minh, ngoan ngoãn nết na, cụ hãy
cho Lê Tuỳ dâng mình vào nhà Chúa thì tốt
đẹp lắm”. Ông ngoại vốn đạo đức nên
vâng ý cha ngay. Thế là đúng như lòng mong
ước của Lê Tuỳ. Sau đó, cậu theo cha
Nghiêm xuống bến đò Kệ, ngược dòng Kim
Ngưu về xứ Yên Duyên thuộc địa phận Tây
Đàng Ngoài. Năm ấy Lê Tuỳ tròn 12 tuổi.
II.
SỨ MỆNH TÔNG ĐỒ
Cha
Nghiêm cho Lê Tuỳ theo học trường Kẻ Vĩnh
( Vĩnh Trị - Ý Yên – Nam Định).
Năm
1798 Cha Nghiêm được bài sai làm cha Chính
Địa Phận Nghệ Tĩnh – Chính ( gồm 3
tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình) Lê
Tuỳ lúc này đã được phong Phó Tế và đi
giúp cha Nghiêm.
Năm
1800 Thày Tuỳ được đức cha An-rê Hậu
truyền chức linh mục tại Nhà thờ Thọ
Kỳ - Hà Tĩnh.
Đầu
tiên người giúp xứ Đông Thành, sau vào Đá
Dựng (Lập Thạch).
Hai
xứ này người giúp trên 17 năm. Sau làm chính
xứ coi sóc bổn đạo Kẻ Đòn (Quy Chính -
Vạn Lộc) thuộc huyện Nam Đàn – Nghệ
An.
Cha
Tuỳ là một linh mục nhiệt thành hăng hái,
đạo đức, hiền hoà.
Đức
cha Lơ Mốt đã nói: “ Không ai là không
bằng lòng với Cha Tuỳ”.
III.
KHÔNG SỢ CHẾT
Năm
Minh Mạng thứ XIV có chiếu chỉ cấm đạo.
Các Quan Nghệ An
sai
quân lính dò thám rình mò, lùng bắt các
linh mục.
Dù
bị cấm cách muôn vàn khó khăn nhưng Cha
Tuỳ vẫn trốn lẩn và
tìm
mọi cách để con chiên trong lúc hấp hối
được lãnh nhận các Bí Tích.
Ngày
25 / 06 / 1833 Cha Tuỳ đi xức dầu cho người
bệnh ở Thành
Trai
(Một họ đạo nhỏ nằm giữa hai làng
ngoại giáo) Cha đã bị bắt.
Giáo dân biết tin đến quan huyện xin nộp
tiền chuộc Cha. Quan huyện Thanh Phong bằng
lòng nhưng với điều kiện: Cha Tuỳ phải
nhận mình là thầy thuốc đi thăm bệnh nhân.
Cha Tuỳ cương quyết từ chối, vì thế mà
Người bị giải về tỉnh phủ Nghệ An.
Mấy ngày sau ra công đường quan hỏi: “Ông
có phải là Đạo Trưởng Gia tô không ?”.
Cha Tuỳ trả lời: “Phải, tôi là Đạo
Trưởng Đạo Thiên Chúa”.
Quan Án liền nói: “Này ông, hãy nghe
tôi, ông đã già rồi, ai thấy ông bị
bắt cũng động lòng thương hại, không ai
muốn ông phải kết án tử hình, tôi cũng
không muốn thế, vậy ông hãy làm giấy
khai mình là thầy thuốc, như thế tôi sẽ
cứu ông khỏi chết nhục hình, ông không
sợ chết sao ? “
Cha Tuỳ điềm đạm trả lời: “Cám
ơn quan đã muốn cứu tôi, nhưng lương tâm
một vị Đạo Trưởng Thiên Chúa, không cho
phép tôi làm theo ý quan. Phần tôi, tôi không
sợ chết, vì ai cũng phải chết một lần...”
Và sau đó là những ngày Cha Tuỳ bị giam
giữ trong ngục.
Về việc không nhận là thầy thuốc: Tiến
sĩ Trần An Bài trong cuốn “Thiên
Hùng Sử” 117 Hiển Thánh Tử
Đạo Việt Nam đã viết:
Nếu
xưa trong Kinh Thánh có truyện cụ già Êlêzarô
không thèm giả bộ ăn thịt cúng để được
tha chết ( 2 Mcb 6, 18 – 28 ) thì ở
Việt Nam có Thánh Lê Tuỳ không khai man mình
là thầy thuốc, không dấu chức vụ mình là
linh mục... Cái chết của Cha đã để lại
cho giáo hữu Việt Nam và toàn cầu một lưu
niệm sâu sa về đạo đức.
IV.
VUA Ở TRÊN LUẬT:
Vua
Minh Mạng vốn ghét Đạo Thiên Chúa, bất
chấp điều luật nhân
đạo
truyền thống của dân tộc, nên ngày 10 tháng
10 năm 1833 quan tổng đốc Nghệ An nhận
được lệnh vua: “ Tên Lê Tuỳ đã xưng
là Đạo Trưởng và truyền tà đạo cho dân,
phải trảm quyết”.
Được tin Cha Tuỳ lộ vẻ vui mừng: “Thật
tôi không dám trông đợi ơn cao trọng này
Chúa đã ban cho tôi, tôi cảm tạ ngợi khen
Chúa”.
Sáng hôm sau ngày 11 tháng 10 năm 1833 là ngày
lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Cha bị
giải ra pháp trường ở chợ Quán Bầu -
Nghệ An để chịu xử trảm. Cha vui vẻ bình
tĩnh lạc quan đến nỗi quan quân và dân chúng
đều nói: “ Chưa bao
giờ thấy ai chịu xử tử mà can đảm như
vậy”.
Cha Tuỳ đã chịu trảm quyết vào giờ Thìn
ngày 28 tháng 8 năm Minh Mạng thứ XIV. Tức:
ngày 11 tháng 10 năm 1833.
V.
CÁC DẤU LẠ:
Trước
giờ trảm quyết Cha quì trên chiếu cầu
nguyện. Cha từ chối
không
nhận tiền vua ban cho tội nhân để ăn
uống trước khi xử tử và Cha tiếp tục
cầu nguyện.
Lời khuyên nhủ cuối cùng Cha dành cho ông
Bênađô Thứ (Người theo giúp việc Cha
Tuỳ): “Con hãy vững lòng bền chí,
rồi con cũng được phần thưởng muôn đời”.
Rồi
Cha đáp lễ với ông, mọi người đều bùi
ngùi xúc động.
Cha
nói với quan:
“
Tôi đã sẵn sàng”.
Một
tên lính vung gươm đầu Cha rơi xuống và
hồn Cha về hưởng
phúc
trường sinh. Một nhân chứng trong hồ sơ
phong Chân Phước đã thuật lại rằng: “
Lúc ấy trời đang quang đãng, bỗng mây đen
kéo đến, bầu trời u ám, mọi người
lấy làm lạ nói với nhau: Ông này linh thiêng
làm sao mà trời đất sầm lại”.
Khi Cha bị bắt giam trong ngục, Cha thường
cầu xin để quê nhà được biết tin.
Chúa đã nhận lời Cha, nên ngày Cha được
phúc Tử Đạo làng Bằng Sở hôm ấy nước
các ao hồ nổi sóng như vũ bão, động đất
dữ dội, trong khi các làng xung quanh bình an
yên ổn. Mọi người trong làng sợ hãi không
biết điềm gì.
Cách ba hôm sau, một lái buôn ở Nghệ An ra
kể chuyện: “ Hồi này trong tỉnh
Nghệ An cấm đạo dữ lắm, quan quân tầm
nã các Đạo Trưởng. Cách đây mấy hôm có
Đạo Trưởng Lê Tuỳ phải trảm quyết”.
Lúc ấy dân làng mới hay tin và khóc lóc
thảm thiết.
Giáo hữu xin quan đưa thi hài Cha về an táng
tại Trang Nứa.
Về sau thi hài Ngài được chuyển về Nam
Khê để giáo hữu kính viếng. Sau lại đưa
Người vế Xứ Yên Duyên, cả họ Bằng
Sở lên rước Cha về chính quê hương
Bằng Sở.
Mấy năm sau khi cải táng, trong áo quan nước
trong vắt, hương thơm xông ngào ngạt.
Kẻ ốm đau bệnh tật, hoặc mất của
cải, gặp sự rủi ro đến xin Cha đều
được như ý. Chính Đức Cha Mát – xông
đã làm chứng điều đó, và ông Thứ cũng
quả quyết: “ Nhiều bệnh nhân
tuyệt vọng được khỏi bệnh nhờ xin
Cha”.
- Ngày 19 /06 / 1840 Đức Thánh Cha GhêGôriô
XVI tôn vinh Cha Lê Tuỳ là Đấng đáng kính.
- Ngày 27 / 05 / 1900 Đức Thánh Cha Lê ô XIII
đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước.
- Ngày 19 / 6/ 1988 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô
II đã tôn phong Cha lên Bậc Hiển Thánh.
Từ đó và nhất là hiện nay người người
khắp nơi đến Bằng Sở hành hương xin ơn
Thánh Lê Tuỳ và rất nhiều người được
như ý xin.
Bề Trên Giáo Phận đã hay biết và xét
thấy Bằng Sở chính là nơi xứng đáng để
khách thập phương hội tụ, tôn vinh các Thánh
Tử Đạo Việt Nam và sinh ơn ích cho những
ai đến hành hương kính viếng và kêu xin
Thánh Lê Tuỳ. Vì thế, Bề Trên Địa
Phận đã quyết định:
Vì
lợi ích thiêng liêng Tòa Tổng Giám Mục
QUYẾT
ĐỊNH
Đến
Thánh Phêrô Lê Tuỳ
tại
Bằng Sở
Là
Trung Tâm Hành Hương của Giáo Phận
Anh chị em hãy gia tăng lòng đạo đức
sốt sáng tích cực thực thi công bình bác
ái để xứng đáng lĩnh nhận ơn phúc dồi
dào Chúa ban nhờ lời chuyển cầu của Cha
Thánh Phêrô Lê Tuỳ.
Hà nội ngày 29 – 06 – 2006
T.M. Toà Tổng Giám Mục
Hà nội
Tổng Giám Mục
Giuse Ngô Quang Kiệt
|